Cách pha dung dịch thủy canh (phần 5)

7.Ảnh hưởng của phân bón đến trồng rau sạch

Phân bón dùng trong kỹ thuật trồng rau sạch đòi hỏi phải tinh khiết hơn phân bón dùng trong trồng cây thông thường trên đất. Tuy nhiên giá thành của các loại phân bón dùng cho kỹ thuật trồng rau sạch thường cao hơn mức bình thường nhưng bù lại ta sẽ có được các kết quả mong muốn. Sản phẩm của kỹ thuật trồng rau sạch luôn có giá trị cao.
Thực chất sự khác nhau giữa giá phân bón chất lượng thấp và chất lượng cao ít có ảnh hưởng lớn trong tổng chi phí trong trồng trọt. Việc sử dụng phân bón phẩm cấp thấp không chỉ đơn giản là chúng cho hàm lượng dinh dưỡng thấp mà điều đáng quan tâm hơn là các thành phần tạp chất sẽ tích tụ trong hệ thống, làm ô nhiễm môi trường trồng và cuối cùng là ảnh hưởng đến chất lượng cây trồng. Do vậy, trong kỹ thuật trồng rau sạch nhất thiết phải quan tâm đến độ tinh khiết của phân bón.
Cây trồng có thể ít bị ảnh hưởng khi dùng phân bón có một chút tạp chất và do vậy có thể bỏ qua ảnh hưởng này. Tuy nhiên nếu hàm lượng tạp chất cao đáng kể sẽ xảy ra vấn đề phải tăng lượng sử dụng và cần phải tính toán lại lượng yêu cầu để đảm bảo đủ dinh dưỡng cho cây trồng.
Nguồn canxi nitrat thương mại phải đặc biệt được quan tâm, bởi lẽ muối này có thể ngậm các lượng nước khác nhau. Thông thường canxi nitrat sạch được xem là ngậm 4H20, song thực tế có loại chỉ ngậm 2H20: 5[Ca(N03)2.2H20] và ngoài ra có cả NH4NO3 kết tinh trong sản phẩm và do vậy sản phẩm này có thể có khối lượng phân tử đến 1080,5. Một mol muối này có chứa 5 mol Ca2+, 11 mol NO3- và 1 mol NH4+, do vậy tỷ lệ N/Ca là 2,4 so với 2,0 ở muối tinh khiết. Để tránh phải tính toán phức tạp Sonneveld đưa ra cách xử lý phân bón này như sau: Ca(N03)2 với khối lượng phân tử 181 tính trên lượng nitơ (giá trị khối lượng phân tử lý thuyết 164,1). Ví dụ với canxi nitrat không tinh khiết (chứa 15,5% N) thì một dung dịch 1 mg N/l cần đến 100/15,5 = 6,45 mg phân bón /1, khi có 19% Ca lượng này sẽ cung cấp 6,45 X 19/100 = 1,23 mg Ca/1.

8  Điều chế dung dịch đậm đặc

Trong các hệ thống trồng rau sạch hiện đại, dung dịch dinh dưỡng được cấp qua bơm hay các bộ phận pha loãng tỷ lệ vì thế có thể điều chế dung dịch dinh dưỡng đậm đặc, thường gấp 100 lần nồng độ yêu cầu. Hệ thống kiểm soát dinh dưỡng tự động dựa trên cơ sở đo độ dẫn điện, do vậy nồng độ ban đầu của dung dịch đậm đặc không phải là điểu cần quan tâm mà ở đây chỉ cần quan tâm đến tỷ lệ pha loãng sao cho không đổi.
Nếu tất cả nhu cầu phân bón được hòa trộn với nhau thành dung dịch đậm đặc cuối cùng sẽ không tránh khỏi kết tủa các muối ít tan như canxi phosphat hoặc sunfat. Để tránh hiện tượng này xảy ra, người ta pha chế thành hai dung dịch riêng rẽ như từng làm trong kỹ thuật màng dinh dưỡng, một dung dịch thứ ba có chứa axit để tự động điều chỉnh độ pH như trong kỹ thuật màng dinh dưỡng. Trước hết điều chế dung dịch A có chứa canxi nitrat; phần hoá chất còn lại bao gồm phosphat và sunfat điều chế thành dung dịch B. Tuy nhiên, hiện nay trong các công thức pha chế tiên tiến hơn người ta sử dụng một phần trong tổng lượng axit yêu cầu như axit nitric trong dung dịch A, cùng với phức sắt chelat. Tổng lượng kali nitrat có thể được cho vào cả trong dung dịch A và B, lượng phán bón còn lại gồm các phosphat hoặc axit phosphoric, magie sunfat, kali sunfat và các nguyên tô’ vi lượng khác (không kể sắt) được kết hợp trong dung dịch B.
Cách pha chế dung dịch dinh dưỡng cự thể chi tiết hơn có thể tham khảo trong các tài liệu chuyên ngành. Tuy nhiên, vì nhiều lẽ, khi sử dụng cần xem xét lại các công thức cũ khi áp dụng cho các hệ thống hiện đại. Người ta thấy trong nhiều trường hợp không cần thiết dùng lượng sunfat quá cao như trước đây, do dễ làm tăng độ mặn khi áp dụng kỹ thuật màng dinh dưỡng và khi trồng trên nền vật liệu xơ khoáng. Một số công thức khác lại bao gồm cả canxi supephosphat hoặc canxi sunfat mà kết quả là làm giảm khả năng hòa tan khi cần điều chế dung dịch dự trữ đậm đặc. Hơn nữa, hầu như trong nhiều công thức không nói đến giới hạn các nguyên tố vi lượng, một số lại nhấn mạnh quá nhiều đến các nguồn sắt chelat.
Thông tin chi tiết về các dung dịch dinh dưỡng dùng trồng cây trên nền chất xơ khoáng đã được Sonneveld và Van đer Ween (1982) đề cập cả với cây cà chua, dưa chuột và hổ tiêu. Các số liệu tương tự đối với cây cà tím cũng đã được Vorgt (1982) công bố. Các công thức dinh dưỡng dùng trong kỹ thuật thủy canh có trong các tài liệu của Wilson (1983), trong đó có đẻ cập cả đến thành phần của nguồn nước cấp.
Các phương pháp điều chế dung dịch dinh dưỡng rõ ràng còn thay đổi theo các nhu cầu tại địa phương và điều kiện trang bị. Do vậy, trong cặc kiểu hệ thống cũ, ví dụ hệ thống tưới ngầm trồng trên nền sỏi, phân bón thường được cho trực tiếp vào thùng chứa, dùng bơm tuần hoàn khuấy trộn nhanh, tất nhiên bảo vệ bơm người ta phải lắp trang bị sàng lọc vật rắn ở lối vào bơm.
Với các hệ thống thủy canh nhỏ, dung dịch dự trữ đậm đạc thường được pha chế bằng cách cho đủ các lượng phân bón hòa tan trong nước và khuấy trộn trong thùng chất dẻo, sau đó để yên. Ban đầu cần nạp dịch ít nhất đến 75% thể tích yêu cầu trước khi cho phân bón vào, do vậy tránh được nguy cơ kết tủa. Với các hệ thống thủy canh lớn, thường phải chế tạo các trang bị đặc biệt để pha chế dung dịch, dùng các thùng lớn bằng thép không gỉ (dung tích đến trên 1.000 lít). Các bộ khuấy trộn dùng diện chạy tốc độ cao, có bố trí các ống xoắn làm lạnh. Sau khi điều chế dùng bơm bơm từng mẻ riêng biệt dung dịch A và B vào thùng chứa chờ cấp dịch vào hệ thống tưới.
Lưu ý:
Khi làm việc với axit cần hết sức cẩn thận, đặc biệt với axit đặc. Dùng bơm chịu ăn mòn axit và các trang bị liên quan đều phải có phòng chống ăn mòn. Không được bơm trực tiếp axit đặc vào nước tưới. Phải có đầy đủ trang bị bảo hộ như găng tay, mặt nạ, kính bảo vệ mắt. Nơi làm việc phải được thông gió tốt. Không đổ nước vào axit đặc dễ gây nguy hiểm do phát nhiệt cục bộ.

Xem tiếp : Cách pha dung dịch thủy canh (phần 6)