Cây keo giải pháp của bệnh giun sán

Cây keo còn có tên là cây bồ kết dại, cây muồng, cây táo nhân. Tên khoa học Leucaena glauca Benth. Thuộc họ Trinh nữ Mimosaceae.   Ta dùng hạt keo còn gọi là hạt muồng, hạt quả bồ kết dại, hạt quả táo nhân – Semen Leucaenae Glaucae.

1. Mô tả cây.

keo nenCây keo hay bồ kết dại là một cây nhỡ không có gai, cao độ 2-4m, hoặc hơn, là 2 lần kép lông chim, có cuống chung dài 12-20cm, ở phía dưới phình lên và có một hạch ở dưới đuôi cuống phụ đầu tiên. Trên cuống có lông ngắn nằm rạp xuống. Lá chét từ 11-18 đôi, gần như không cuống, hình liềm,nhỏ ở đầu, dài 10 -15mm, rộng 3-4mm. Hoa trắng nhiều, hợp thành hình cầu có cuống. Quả giáp dài 13-14cm, rộng 15mm, màu nâu, đầu có mỏ nhọn cứng. Hạt có khoảng 15-20, hạt dẹt chỉ hơi phồng lên thôi, sắp nghiêng trong quả, dài 7mm rộng 4mm phẳng nhẵn,màu nâu nhạt, hình bầu dục, hơi lẹm ở phía dưới

2. Phân bố, thu hái và chế biến

Cây keo  mọc hoang và được trồng khắp nơi trong nước ta để làm hàng rào, làm phân xanh bóng mát. Trâu bò rất thích ăn lá cây này. Khi quả chín lấy về đập lấy hạt phơi hay sấy khô. Ngoài công dụng làm thuốc, hạt keo còn đang được nghiên cứu làm thức ăn cho súc vật.

3. Thành phần hóa học của hạt keo

Được nhiều người nghiên cứu, sau đây là một số kết quả chính:

Hạt không chứa tinh bột. Chứa 12-14% chất nhầy, chất đường, 4,45% tro, 21% prôtit,  5,5% chất béo và chất leuxenola (còn gọi là leuxenin hay mimosin) một chất đã tổng hợp được, có tính chất amino phenolic (Mascré, 1937 và Roger -Johnson J.L., 1949).

Chất leuxenola còn gọi là leuxenin C8H10O4N2 chứa trong lá và hạt với tỷ lệ 3% (trong lá khô) và 5% (chứa trong cây xấu hổ Mimosa pudica) giống nhau và hai chất như một (Vibau J.P., 1946). Chất leuxenin tan trong nước, trong cồn  etylic và metylic, gần như không tan trong các dung môi hữu cơ khác, có tính chất độc.

Leuxenola hydrat có độ chảy 210 , dạng khô kiệt có độ chảy 227-2280.

Cho  muối clohydrat với độ chảy 17905,muối iohydrat có độ chảy 183-18305.

Năng suất quay cực D = -210 (H2O).

Theo Tômina ca (Nhật Bản 1949) trong lá còn chứa một chất glucozit.

4. Tác dụng sinh lý

Trẻ con thường ăn hạt keo xanh, không kể liều lượng, thấy có ra giun, không có hiện tượng độc.

Thời thuộc pháp, hạt keo có được thí nghiệm dùng trị giun đũa ở bệnh viện đồng Thủy (cơ sở của bện viện 108 hiện nay) kết quả thấy có tác dụng trị giun với liều lương 50g một ngày.

Năm 1961, bệnh viện Ninh Giang có dùng trị giun cho 98 ca cũng đạt được kết quả tốt, không thấy có triệu chứng ngộ độc nào. Cách và liều dùng như sau:

Rạng hạt cho đến khi nở, tán bột.

– Trẻ em 3-5 tuổi uống 5g một ngày uống luôn 3 ngày.

– Trẻ em 6-10 tuổi uống 5g một ngày uống luôn 3 ngày.

– Trẻ em 11-15tuổi uống 5g một ngày uống luôn 3 ngày.

Mặc dầu thực tế, thấy ăn vào giun ra, nhưng thí nghiệm trên giun đất, nước sắc hạt keo không thấy có tác dụng (Bộ môn dược liệu 1960).

Nhiều nơi người ta dùng hạt keo này rang lên uống thay cà phê.

* Trong thú y, do tỷ lệ prôtit cao trong hạt keo, cho nên nhiều người thủ cho súc vật ăn,nhưng kết luận về giá trị thức ăn đối với súc vật chưa thống nhất:

– Đối với gà con, tỷ lệ chết của gà con tăng lên, gà thường không thích ăn hạt keo.

– Đối với thỏ: Độ độc có thể chết (lá và hạt).

– Đối với lợi có thể gây mất đẻ một thời gian.

– Loài ăn cỏ mà không nhai lại như lừa, ngựa, hay lợn ăn keo sẽ rụng lông, bờm rụng, lông đuôi rụng. Trái lại trâu bò là loài ăn cỏ nhưng nhai lại, ăn hạt keo không thấy hiện tượng đó.

5. Công dụng và liều dùng

Nhân dân thường dùng hạt keo làm thuốc chữa giun với liều 10-15g cho trẻ con, có thể uống tới 25-50g đối với người lớn. Uống liền 3 sáng vào lúc đói.

Ngoài ra dân gian còn thu hái hạt keo chín đem rang vàng, rồi làm nước trà uống hàng ngày.

Theo Nhungcaythuoc